VWAT Family Services

'Empowering our Community'

Tôi muốn tự hào là người Canada gốc Việt

DSCF1456 (605x341)
by Việt Anh

Khi đến sinh sống và làm việc tại Canada, cũng như mọi sắc dân khác, người Việt định cư – trong một số trường hợp – không tránh khỏi phải chịu một sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc từ những người bản xứ da trắng chiếm đa số đối với họ.

Nạn kỳ thị có thể xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Nó có thể được biểu hiện bằng lời nói lẫn hành vi. Kỳ thị bằng lời nói như là trêu đùa, chỉ trích, hoặc nhận xét làm tổn thương người nghe; lăng mạ tên gọi hoặc thông qua lời nói quấy rối hoặc đe dọa. Kỳ thị bằng lời nói cũng có thể là những bình luận trực tuyến hay trên các phương tiện làm tăng sự thù địch đối với các nhóm dân tộc nhất định (Szoke 2012). Hãy nghe lời kể của một nạn nhân:

“Hôm đó trời đang mưa phùn. Thấy một bà Tây đang đẩy một xe đẩy băng qua đường, bạn tôi nhảy ra khỏi xe đến ngỏ ý giúp bà ấy. Nhưng bà ấy mắng bạn tôi ‘bọn đầu đen (black-haired people) này nọ…’. Bà không để cho bạn tôi giúp đẩy xe. Bà bảo bà không cần giúp gì cả. Và bà cứ lập đi lập lại ‘bọn đầu đen…’” (Mellor 2004).

Kỳ thị bằng hành vi như ánh mắt nhìn không thân thiện, thái độ kẻ cả, chế nhạo, tránh né, tẩy chay, quấy rối, và nghiêm trọng hơn nữa, có thể là những hành động lạm dụng và bạo lực (Szoke 2012). Những hành vi như thế xảy ra ở bất cứ nơi đâu, kể cả nơi làm việc, như cô A.T. đã trải qua:

“Buổi trưa họ (những người da trắng) chỉ ngồi ăn chung với nhau một bàn. Họ không bao giờ ngồi ăn chung với người Việt chúng tôi. Lúc đầu tôi chỉ nghĩ rằng đó là do chúng tôi không nói tiếng Anh lưu loát, nên không nói chuyện được với họ một cách thoải mái. Tuy nhiên qua cái nhìn của họ, tôi có thể thấy được sự kỳ thị của họ đối với tôi.  Buổi sáng gặp nhau lúc mới vào sở, họ không muốn chào tôi một tiếng ‘Hello’,mà họ chỉ đi thẳng qua trước mặt tôi.”

Kỳ thị chủng tộc có thể là không cho người khác tiếp cận các dịch vụ hay tham gia làm việc, học tập, chơi thể thao và các hoạt động xã hội.

Kỳ thị chủng tộc khiến những dân tộc khác nhau không được tiếp cận công bằng các cơ hội, nguồn lực hoặc sức mạnh. Đôi khi chính niềm tin rằng một dân tộc hoặc sắc tộc nào đó ở vị thế cao hơn hoặc thấp hơn so với dân tộc hoặc sắc tộc khác được dùng làm lý do bào chữa cho sự không công bằng này (Szoke 2012).

Điều đáng buồn là không chỉ chịu đựng sự kỳ thị từ người da trắng gốc bản xứ hoặc từ các chủng tộc khác, người Việt đôi khi lại phải chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử ngay chính từ những đồng hương của mình! Điều này có thể xảy ra với bất cứ ai, nhưng thường xảy ra nhất vẫn là với những người vừa mới đến nhập cư.

Hãy nghe em H.V. tâm sự:

“Năm lớp 9 tôi được gia đình bảo lãnh sang Canada. Chân ướt chân ráo từ miền quê Tây Ninh đến một nơi xa lạ, tôi chưa có bạn bè và cũng không biết gì ngoài gia đình mình cả. Gia đình tôi động viên tôi phải chăm học Anh văn để dễ thích nghi với cuộc sống hơn. Tôi được đăng ký vào một trường trung học cách nhà không xa lắm. Ngày đầu tiên đi học, tôi cảm thấy rất bồn chồn và hồi hộp. Tôi lo rằng tiếng Anh mình không bằng ai, bài vở sẽ rất khó khăn với mình và làm cho thầy cô chán nản. Gia đình tôi dặn kiếm bạn người Việt để họ giúp đỡ mình. Nhưng sau đó, tôi nhận ra rằng thầy cô ở đây khác với thầy cô ở VN. Họ rất kiên nhẫn và dễ thương với học sinh. Ngược lại, tôi nhận được sự xa lánh và kỳ thị ở chính các bạn VN sinh đẻ hoặc lớn lên tại đây. Những lúc tôi mở miệng lắp bắp phát biểu trong lớp, họ cười khúc khích với nhau, có khi cười ầm lên làm tôi đỏ cả mặt. Có nhiều khi họ nhái lại những câu tôi nói bằng cái tiếng Anh đầy âm giọng Việt Nam của tôi. Họ gọi tôi là thằng FOB (Fresh Off the Boat). Dĩ nhiên không phải bạn nào cũng vậy. Nhưng nhiều bạn VN từ chối giúp đỡ tôi. Họ không muốn người ta thấy họ đang nói chuyện với tôi vì như vậy họ sẽ bị quê. Cho nên trong những năm đầu tiên ở Canada, tôi cảm thấy thực sự cô đơn.”

Bạn K. V. đến Canada từ năm 6 tuổi thì lại có những trải nghiệm khác:

“Khi nói về mối quan hệ giữa các chủng tộc, người ta sẽ nghĩ ngay đến những sự kết hợp cách biệt nhất – chẳng hạn như giữa một người da trắng và một người da đen hoặc giữa một người Ấn Độ và một người Trung Quốc chẳng hạn. Lớn lên ở Toronto, một môi trường đa văn hóa, tôi được dạy rằng không nên đánh giá một người dựa trên chủng tộc của họ. Tuy nhiên, cuối cùng thì chính tôi cũng phải đương đầu với thử thách này, cho dù bạn gái của tôi cũng là người Việt Nam.

Tôi quen cô ấy ở trường trung học.Tôi rất mừng vì cô ấy cũng là người Việt, vì như thế có nghĩa là chúng tôi có nhiều điểm chung. Tôi tự hào là người Việt và tôi nghĩ rằng nàng chính là người mà tôi mong ước. Tôi nóng lòng muốn đưa nàng về nhà gặp cha mẹ tôi lần đầu tiên. Cha mẹ tôi rất đặt nặng vấn đề truyền thống và họ muốn ba đứa con trai của họ quen với bạn gái Việt Nam và để tiếp tục gìn giữ văn hóa Việt. Tôi đưa bạn gái về ăn tối với gia đình. Trái lại với những gì tôi mong đợi, mẹ tôi tỏ ra lạnh lùng và chẳng muốn trò chuyện với nàng. Sau khi nàng ra về, mẹ tôi bảo tôi ngồi xuống và nói với một vẻ nghiêm trọng: “Con không thể  quen con bé ấy.” Lý do mà mẹ tôi giải thích thậm chí còn gây sốc hơn nữa: tại vì bạn gái của tôi là dân HP, một thành phố ở miền Bắc Việt Nam. “Ba mẹ không thể  để con quen với hạng người đó. Họ sẽ làm ảnh hưởng xấu đến con. Họ mang lại tiếng xấu cho người Việt Nam”.  Mẹ tôi còn đưa ra thêm những lý do buồn cười nữa như “con bé ấy nhuộm tóc vàng” hay “nghe cái giọng thấy ghét”. Bà còn nói với tôi rằng nếu tôi tiếp tục mối quan hệ này, trong tương lai tôi sẽ không bao giờ được hạnh phúc. Nghe vậy mà lòng tôi tan nát. Cho dù tôi rất mực yêu thương mẹ, nhưng bạn gái của tôi đã làm gì sai trái cơ chứ, và tại sao chúng tôi lại không được phép quen nhau. Tôi không thể hiểu được tại sao những người Việt có thể kỳ thị với nhau chỉ vì những định kiến như vậy. Mẹ tôi đã không thể bỏ qua những định kiến để đánh giá bạn gái tôi dựa trên chính nàng, thay vì là quê quán của ba mẹ nàng. Kể từ hôm đó, mẹ tôi luôn luôn cằn nhằn, bực bội mỗi khi tôi dành nhiều thời gian với bạn gái của tôi. Điều đó không chỉ làm cho chúng tôi xa cách nhau, nó còn gây cho bạn gái tôi một cảm giác khó chịu khi ở gần tôi.”

Trong trường hợp ông D.D.T., người sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và đến Canada năm 2002 cùng với gia đình theo diện nghề nghiệp (skilled worker), ông lại có những trải nghiệm buồn bã khác mang dấu vết của di sản cuộc chiến 30 năm trên đất nước quê hương ông.

“Tôi đến Canada theo diện di dân có tay nghề năm 2002. Tôi là một trong những người đầu tiên từ Việt Nam đi định cư theo diện skilled worker. Lúc đó hầu như những người Việt trong nước ít ai biết chính sách này. Còn cộng đồng người Việt ở Canada mặc dù cũng có những người biết chính sách di dân kinh tế này, bởi hàng năm, có rất nhiều di dân skilled worker đến từ khắp nơi trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Âu và Nam Mỹ v.v  nhưng họ lại không nghĩ đây là một chính sách dành cho cả Việt Nam. Lý do đơn giản là họ nghĩ chính phủ VN không bao giờ chấp nhận cho những người có tay nghề rời bỏ đất nước ra đi như nhiều năm trước đó.

Tôi đến Canada cùng với gia đình, vợ và hai con dưới 20 tuổi. Vợ con tôi là những người “ăn theo” (dependants), nên nghiễm nhiên được đi cùng với tôi, người nộp đơn chính (main applicant).

Nghe tin tôi mới sang, một người cô ruột ở Mississauga gọi điện thăm hỏi. Câu hỏi đầu tiên của cô tôi là “Cháu ơi, cô hỏi thật nhé, ở VN cháu làm chức gì cho VC mà được họ cho đi qua đây cả nhà như thế?” Tôi giải thích thật sự tôi là một kỹ sư bình thường, không đảng viên, không chức vụ và làm việc cho một công ty tư nhân. Nhưng bà vẫn bán tín bán nghi. Bà nói chưa thấy ai đi di dân mà không có người bảo lãnh, và lại đi cả gia đình đủ cả vợ chồng con cái 4 người như tôi.

Một lần khác, ở một phòng mạch bác sĩ gia đình, câu chuyện lại lập lại tương tự như thế. Một bác lớn tuổi hỏi tôi “Anh sang đây lâu chưa?”. “Dạ, cháu mới sang nửa năm”, tôi đáp. Sau một lúc trao đổi và biết được tôi là một kỹ sư, di dân theo diện nghề nghiệp, ông ấy nhất định không tin. Ông ấy hỏi tôi đã làm cách nào để có thể đi được. Tôi trả lời tôi chỉ download đơn xin định cư từ internet và làm theo hướng dẫn của website Canada. Sau một thời gian xét đơn, tôi được Canada kêu phỏng vấn và cấp visa định cư. Ông ấy vẫn không tin và buông một câu chắc nịch: “Anh đừng có nói dối tôi. Tôi cũng là một kỹ sư đây này. Thời tôi ra đi định cư do con gái bảo lãnh, chúng nó nhất định không cho tôi đi và làm khó dễ đến cùng. Nếu anh không chạy chọt làm sao anh có thể đi định cư cả gia đình như thế được?!” Tôi rất ấm ức vì đã nói sự thật mà không ai tin.

Một lần đưa cả nhà đi dự một lễ hội ở một ngôi chùa Việt Nam. Sau lễ chào cờ, các con tôi đã hỏi “Ba ơi, đó là cờ gì vậy ba? Tại sao mình lại chào cờ đó? Và bài quốc ca cũng không phải  là quốc ca Việt Nam? Con chẳng hiểu gì cả.” Tôi ôn tồn giải thích cho các cháu hiểu đó là lá cờ của đất nước mà ba đã sinh ra, lớn lên, lá cờ mà ba đã chào trong suốt 20 năm đầu tiên trong đời ba. Bây giờ ba có dịp được chào lại lá cờ đó, cũng giống như là ba đang được trở về nhà. Sau này lớn lên, đọc lại lịch sử, các con sẽ hiểu hơn.”

Tuy nhiên dần dà, đã xảy ra quá nhiều sự kiện làm tôi không còn cảm giác hạnh phúc “được trở về nhà” như tôi đã nghĩ. Đi làm tạm thời trong một hãng packing để sinh sống trong thời gian kiếm việc chính thức, tôi gặp một vài đồng hương Việt ở đó. Có một người đàn ông đứng tuổi lúc đầu rất vui vẻ thân thiện với tôi. Qua nói chuyện, tôi biết được ông ấy ngày xưa là một sĩ quan VNCH trước 1975. Tuy nhiên chỉ vài hôm sau, bỗng nhiên ông ta thay đổi thái độ, không thèm chào hỏi hay nói với tôi một câu. Tôi hết sức ngạc nhiên và nghĩ thầm trong lòng, làm sao trên đời này lại có người bất lịch sự đến thế. Dần dà, qua một vài tìm hiểu với những người xung quanh, tôi mới hiểu ra rằng có lẽ ông ấy nghĩ rằng tôi di dân đến Canada như là một cán bộ của nhà nước VN cử sang “hoạt động” ở đây. Nói một cách khác, tôi là một VC nằm vùng! Tôi cảm thấy rất buồn về việc đó, nhưng không thể làm gì khác hơn để chứng minh hay giải thích cho mọi người hiểu được. Tôi hiểu đây là một ngộ nhận. Nhưng tôi không hiểu nổi tại sao ở đất nước tự do và tràn ngập thông tin này lại có những người dễ dàng ngộ nhận và phán xét người khác một cách hồ đồ như thế.”

Câu chuyện của ông D. cũng giống như muôn vàn mẩu chuyện phân biệt và kỳ thị khác trong cộng đồng người Việt của chúng ta liên quan đến di sản của chiến tranh. Tuy nhiên kỳ thị không chỉ dừng lại ở những yếu tố vùng miền địa lý, người đến sau hay người đến trước, người đi thuyền hay người đi máy bay v.v.  Cảm giác bị phân biệt hay bị cô lập đối với cộng đồng Việt Nam thậm chí còn xảy ra nơi những em nhỏ gốc Việt thế hệ hai vốn được sinh ra ngay tại đất nước Canada.

“Khả năng sử dụng tiếng Việt của tôi bị các bạn đồng trang lứa đánh giá thấp. “, “cảm thấy khó chịu vì không hiểu được tiếng Việt trong câu chuyện cười và các thành ngữ,” “Cảm giác bị cô lập trong cộng đồng Việt của tôi,” “cảm thấy không thoải mái  khi nói chuyện bằng tiếng Việt  với cha mẹ tôi, vì tôi hoàn toàn không thạo về ngôn ngữ, “và”những  lý tưởng của tôi bị các thành viên trong gia đình tôi phủ nhận bởi vì chúng được xem như là quá phương Tây” (Lay and Nguyen 1998).

Tóm lại, sự kỳ thị và phân biệt vẫn có thể xảy ra trong bất kỳ tình huống nào, hoàn cảnh nào giữa thành viên của những cộng đồng khác nhau, hay thành viên trong chính một cộng đồng, nhất là cộng đồng nhập cư từ một đất nước nghèo khổ, chiến tranh đến một xứ sở giàu có, văn minh, nhưng có đời sống và văn hóa hoàn toàn khác biệt.

Kỳ thị mang lại nhiều hậu quả tai hại cho từng cá nhân, và từ đó ảnh hưởng đến cả cộng đồng. Nạn nhân của kỳ thị phải gánh chịu nhiều ảnh hưởng tinh thần dẫn đến những bệnh chứng tâm lý lâu dài. Trẻ con bị kỳ thị sẽ dễ bị mất tự tin và không thể phát triển tài  năng một cách toàn diện. Kỳ thị ngăn chặn việc sử dụng dịch vụ cộng đồng một cách bình đẵng và là nguyên nhân gây chia rẽ, mất đoàn kết trong cộng đồng.

Kỳ thị và phân biệt đối xử là khó tránh khỏi, nhưng không bao giờ có thể là một dấu hiệu lành mạnh góp phần cho sự tiến lên của cộng đồng, hội nhập với xã hội chung được. Chúng ta cần hợp sức để chia sẻ và cảm thông về những vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử nhằm giúp cho cộng đồng chúng ta hiểu nhau hơn.

Hội Phụ Nữ Việt Nam ở Toronto rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, chia sẻ của tất cả quý đồng hương về vấn đề trên và cùng nhau trao đổi phương cách để làm giảm thiểu những sự hiểu lầm không đáng có. Tất cả chúng ta hãy tự hào là người Canada gốc Việt, mang theo trong mình dòng máu của dân tộc Việt. Chúng ta hãy đoàn kết, tương trợ nhau trong cuộc sống, cùng nhau chung tay xây dựng cuộc sống mới ngày càng ổn định, phồn vinh trên đất nước Canada tươi đẹp này. Mọi ý kiến xin gởi về địa chỉ nhóm Công tác Cộng đồng, email congdong@vwat.org. Xin trân trọng cảm ơn.

Researched and Written by Việt Anh

 

 

Tài liệu tham khảo:

Szoke, H.  (2012) National Anti-Racism Strategy. Australian Human Rights Commission, 4-5.

Mellor, D. (2004) The Experiences of Vietnamese in Australia: The Racist Tradition Continues. Journal of Ethnic and Migration Studies Vol 30, No.4, July 2004, pp. 631-658

Lay, C and Nguyen, T (1998) The Role of Acculturation-Related and Acculturation Non-Specific Daily Hassles: Vietnamese-Canadian Students and Psychological Distress. Canadian Journal of Behavioural Science, 1998, 30:3, 172-181

Updated: April 26, 2014 — 3:51 pm
VWAT Family Services © 2015